Biện pháp phòng ngừa, cảnh báo các nguy cơ có thể xảy ra trong gây mê và phẫu thuật

Written by admin on Tháng Mười Một 14th, 2019. Posted in QLCL - ATNB

Nguy cơ sự cố xảy ra trong gây mê, gây tê (gọi tắt là gây mê) và phẫu thuật là một sự thật hiển nhiên không thể tránh khỏi hoàn toàn. Không có một nghiên cứu nào ước tính và dự đoán một cách chính xác khi người bệnh được gây mê và phẫu thuật sẽ gặp những loại tai biến nào, nhưng chắc chắn rằng khi người bệnh được gây mê để phẫu thuật dù lớn hay nhỏ, dù đơn giản hay phức tạp thì những tai biến nguy cơ luôn luôn đe dọa đến sự sống, đến sinh mạng người bệnh, những nguy cơ này có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào trong suốt quá trình gây mê và phẫu thuật kể cả khi mổ xong. Nhằm hạn chế những thương tổn cho người bệnh trong quá trình gây mê hay liên quan đến gây mê và phẫu thuật thì việc cảnh báo phòng ngừa các nguy cơ phải được ưu tiên hàng đầu để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

Tự thực tế, khoa Phẫu thuật – Gây mê hồi sức, Bệnh viện đa khoa khu vực Cam Ranh xây dựng giải pháp phòng ngừa, cảnh báo các nguy cơ có thể xảy ra trong gây mê và phẫu thuật để giảm thiểu các sự cố gây nguy hại cho người bệnh như sau:

1.  Phòng ngừa nguy cơ cháy nổ trong phẫu thuật:

Hướng dẫn quy trình chống cháy nổ cho nhân viên y tế.

Thực hiện chuỗi mệnh lệnh trong tình trạng khẩn cấp.

Nhân viên được tập huấn và tự rèn luyện cách sử dụng bình chữa cháy, cách ngăn chặn và biết cách dập tắt khi cháy nổ.

Nhân viên phải nhớ rõ vị trí bình chữa cháy, đèn báo động, cửa thoát hiểm, hệ thống oxy và lộ trình sơ tán khả thi.

Khoa, phòng nhắc nhở và thông tin về an toàn cháy nổ thường xuyên.

Các thiết bị mổ bằng điện phải được bảo trì và kiểm tra thường xuyên.

Gắn chặt các dây cáp điện trước khi hoạt hóa nguồn và để ở vị trí chờ khi tháo các dây cáp.

Làm ẩm gạc để giảm bắt lửa, đặc biệt trong các phẫu thuật vùng hầu họng.

Xác định rõ trách nhiệm của từng thành viên:

-  Đối với phẫu thuật viên và người phụ mổ phải kiểm tra nguồn nhiệt, thiết bị đốt điện, dao mổ laser, các tia cao áp tĩnh điện trước khi phẫu thuật.

-  Đối với điều dưỡng tham gia kíp mổ nên hạn chế sử dụng các chất dễ cháy như cồn, thuốc mỡ…

-  Đối với gây mê phải giảm thiểu tạo ra oxy, nitrousoxide và các loại khí hơi khác bằng cách sử dụng kỹ thuật tạo nút chắn, sử dụng oxy liều lượng thấp…

2. Phòng ngừa nguy cơ bệnh nhân té ngã:

Gường, xe đẩy bệnh nhân phải có thanh chắn hai bên.

Điều chỉnh bàn mổ nghiêng trái, phải, cao, thấp để đảm bảo yêu cầu phẫu thuật phải có giá đỡ và gối kê.

Đối với bệnh nhân chưa thoát mê phải có dây cố định tay chân cẩn thận.

3. Đảm bảo đúng bệnh nhân, đúng vị trí phẫu thuật:

Trước khi bệnh nhân vào phòng mổ phải chắc chắn rằng bệnh nhân đã được nhận diện đúng tên, tuổi, giao tiếp bằng lời nói với bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân và đối chiếu lại tên tuổi trên hồ sơ bệnh án theo quy trình nhận dạng người bệnh phẫu thuật.

Kiểm tra chắc chắn rằng bệnh nhân và thân nhân đã ký đồng ý phẫu thuật với vị trí, phương pháp phẫu thuật, vô cảm đã được giải thích trước mổ.

Phẫu thuật viên đánh dấu vị trí mổ đối với vị trí mổ đối xứng.

Trước khi rạch da, tất cả Ê-kíp phẫu thuật phải dừng lại kiểm tra lần cuối về danh tính, chẩn đoán, vị trí và phương pháp phẫu thuật.

4. Phòng ngừa các tai biến liên quan đến gây mê:

Người gây mê phải có mặt liên tục và có trách nhiệm trong suốt cuộc mổ. Nếu có một khẩn cấp đòi hỏi sự vắng mặt tạm thời của người gây mê chính thì phải cân nhắc xử lý dựa vào nguy cơ của khẩn cấp đó so với tình trạng người bệnh và nên để lại người gây mê phụ có trách nhiệm theo dõi.

Chuẩn bị và kiểm tra đầy đủ các trang thiết bị, thuốc trước khi thực hiện gây mê, gây tê.

Theo dõi bệnh nhân liên tục bằng máy monitoring có cài đặt âm báo với âm lượng đủ cho mọi người đều nghe được.

Khi sử dụng máy gây mê kèm thở phải cài đặt chế độ báo động để phòng ngừa khi có rò rỉ khí hay tuộc ống nội khí quản.

Độ mê phải được đánh giá liên tục trong suốt quá trình phẫu thuật.

Điện tim phải sử dụng để theo dõi tần số tim và các đường biểu diễn sóng.

Đo và theo dõi liên tục nồng độ CO2 cuối thì thở ra để chắc chắn ống nội khí quản đúng vị trí và bệnh nhân được thông khí đầy đủ.

Theo dõi các chỉ số sinh tồn trên máy monitoring ít nhất 05 phút/lần.

5. Nhận biết tình huống không kiểm soát được đường thở:

Tất cả bệnh nhân phải được đánh giá cẩn thận về đường thở trước khi gây mê, kể cả những trường hợp dự kiến không đặt nội khí quản để xác định nguy cơ của đường thở khó có thể xảy ra.

Một khi nghi ngờ bệnh nhân có đường thở khó thì phải thực hiện đúng quy trình xử lý đường thở khó.

Sau khi đặt nội khí quản, phải kiểm tra vị trí ống nội khí quản bằng quan sát độ di động của lồng ngực, nghe thông khí hai phổi ở 05 vị trí (hai đỉnh, hai đáy phổi và vùng dạ dày), theo dõi Sp02 và CO2 cuối thì thở ra.

Bệnh nhân phẫu thuật chương trình phải được nhịn ăn uống theo phác đồ cụ thể. Những bệnh nhân có nguy cơ hít sặc phải được sử dụng thuốc giảm tiết dịch vị và tăng PH dạ dày trước khi phẫu thuật.

6. Phòng ngừa nguy cơ mất máu:

Trước khi dẫn mê, người gây mê phải đánh giá bệnh nhân, nếu nguy cơ mất máu khối lượng lớn thì chuẩn bị sẵn sàng máu và các chế phẩm của máu.

Khi có nguy cơ chảy máu trong mổ thì phải lập hai đường truyền tĩnh mạch lớn và chắc chắn.

7. Ngăn ngừa bỏ sót gạc và dụng cụ phẫu thuật:

Phẫu thuật viên phải kiểm tra vùng mổ trước khi đóng bất kỳ các khoang hoặc vị trí phẫu thuật.

Đếm đầy đủ trước và sau phẫu thuật các loại gạc, kim, vật sắc nhọn, dụng cụ và các vật tư khác có sử dụng trong phẫu thuật.

Đếm xong phải ghi chép vào bảng treo tường và hồ sơ đầy đủ về số lượng. Nhân viên phải  báo cáo đầy đủ với phẫu thuật viên trước khi đóng vết mổ.

8. Phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng vết mổ:

Kháng sinh dự phòng nên được chỉ định thường qui khii phẫu thuật.

Tất cả các dụng cụ, trang thiết bị, vật tư y tế phải được khử khuẩn theo quy trình kiểm soát nhiểm khuẩn..

Vùng phẫu thuật phải được sát khuẩn trước phẫu thuật bằng các chất sát khuẩn thích hợp.

Rửa, chải bàn tay, cẳng tay, cánh tay đúng quy trình rửa tay phẫu thuật.

Bao phủ tóc, mang mask và đeo găng tay vô khuẩn phải được thực hiện trong suốt quá trình phẫu thuật.

Bệnh nhân nên được tắm rửa trước phẫu thuật bằng xà phòng sát khuẩn.

Cạo lông không được khuyến cáo trừ khi nó làm ảnh hưởng đến cuộc mổ.

Nhiễm khuẩn có trước phẫu thuật nên được điều trị khỏi hoàn toàn trước khi xếp lịch mổ chương trình.

Sát khuẩn vết mổ bằng povidine 10% trước khi kết thúc phẫu thuật.

Băng vô trùng vết mổ được sử dụng ít nhất 24 – 48 giờ sau mổ.

Định kỳ Ê-kíp phẫu thuật phải được đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn.

9. Đề phòng phản ứng dị ứng và phản ứng có hại của thuốc:

Khai thác tiền sử dị ứng và các phản ứng quá mẫn trước khi dùng thuốc.

Tất cả các thuốc khi sử dụng phải được dán nhãn vào ống tiêm. Để xác định chính xác thuốc trước khi sử dụng phải được kiểm tra đối chiếu thuốc theo 5 đúng (đúng tên bệnh nhân, đúng tên thuốc, đúng liều dùng, đúng đường dùng và thời gian dùng thuốc).

Khi tiêm thuốc phải có hộp thuốc chống shock bên cạnh.

Chú ý các loại thuốc phóng thích histamine và các hóa chất trung gian khi sử dụng vì rất dễ gây phản ứng phản vệ.

10. Nhận diện chính xác và an toàn mẫu bệnh phẩm:

Mẫu bệnh phẩm phải được trong lọ có dán nhãn chính xác với tên, tuối, địa chỉ người bệnh; tên bệnh phẩm, vị trí, thời gian lấy mẫu và bảo đảm không tràn đỗ.

11. Giảm thiểu những áp lực phát sinh trong khi gây mê, phẫu thuật:

Để giảm bớt căng thẳng khi làm việc kéo dài, mệt mỏi, mất ngủ…thì biện pháp hữu hiệu nhất là xin nghỉ thay phiên trong một thời gian ngắn, hoặc nghỉ bù, đặc biệt là khi thấy sức khỏe không đảm bảo thi nên xin được thay thế.

Trong gây mê và phẫu thuật, nếu cảm thấy không an toàn cho người bệnh thì gọi người hỗ trợ hoặc hội chẩn với đồng nghiệp để tìm giải pháp thích hợp.

Nhân viên nên di chuyển nhẹ nhàng, hạn chế tiếng động, nói nhỏ, đặc biệt khi có bất đồng ý kiến không nên căng thẳng giữa các cá nhân với nhau.

12. Giao tiếp và trao đổi thông tin quan trọng có hiệu quả:

Trước khi rạch da, phẫu thuật viên nên trao đổi và chắc chắn rằng cả Ê- kíp đều nắm rõ các bước quan trọng trong cuộc mổ, nguy cơ mất máu, các trang thiết bị dụng cụ đặc biệt và khả năng phát sinh những bất thường trong mổ.

Điều dưỡng và gây mê phải báo cáo bất kỳ các khó khăn trong mổ như thiếu hụt về trang thiết bị, khó khăn trong hồi sức mất máu cũng như những nguy cơ về gây mê hồi sức cho tất cả các thành viên trong Ê-kíp nắm.

Trước khi bệnh nhân rời phòng mổ, phẫu thuật viên nên thông báo với Ê- kíp về bất kỳ thay đổi nào so với dự kiến ban đầu, những thay đổi có thể xảy ra ở giai đoạn hồi tỉnh và kế hoạch chăm sóc sau mổ bao gồm kháng sinh, phòng ngừa huyết khối, ăn uống và chăm sóc vết mổ…

Người gây mê hồi sức phải khuyến cáo các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình hồi tỉnh để có kế hoạch phòng ngừa và xử trí kịp thời cho người bệnh./.

Trackback from your site.

Leave a comment

You must be logged in to post a comment.